Các phương pháp an táng mộ phần trong Phong Thủy: Táng Hình, Táng Mạch, Táng Khí, Táng Ảnh

Táng Hình, Táng Mạch, Táng Khí, Táng Ảnh

 Cổ ngữ có câu rằng: “Nhất đẳng Địa Sư quan Tinh Đẩu, Nhị Đẳng Địa Sư quan Thủy Khẩu, Tam Đẳng Địa Sư mãn sơn tẩu”. Điều này thực ra là dùng TÁNG MẠCH – TÁNG KHÍ hay TÁNG ẢNH để phân định trình độ cao thấp của Địa Sư. “Nguyên Xu Kinh nói: Táng Mạch chẳng bằng Táng Khí, người biết táng huyệt theo khí mới là bậc cao thủ. Lại nói: “Pháp táng chi táng, nãi hội ý chi táng, thị dĩ Táng ảnh tối cao”. có nghĩa là cảnh giới cao nhất trong táng huyệt là Táng ảnh, tức táng huyệt theo hội ý từ sơn non, hình thế tổng thể.

Nhất Thược Tử nói rằng: Thông qua ghi chép trong cổ thư và khảo sát các mộ phần xưa, các ngôi mộ cổ, phát hiện ra rằng: Người táng theo Mạch thì phúc quý phát ra ổn định nhất, lâu bền nhất. Người táng theo Khí, nếu gặp vượng khí thì phúc quý phát ra nhanh nhất. Còn Người táng theo Ảnh thì phúc quý phát chậm nhất. Do đâu mà Táng Ảnh – cảnh giới cao nhất trong Táng Pháp lại khiến phú quý phát muộn nhất? Chỉ vì Pháp Táng này lấy Thiên Tượng để xác định Huyệt, theo ánh Tinh Sao mà luận đoán, tiến trước lùi sau, dịch trái né phải, lấy Hình bóng mà phân định, nhiều khi phạm lỗi “Thoát Khí” nên ứng phát chậm. Có vậy mới thấy, trình độ của Địa Sư cao hay thấp không phải xét theo Phương pháp Táng hay biện pháp sử dụng, mà phải xem Địa Sư có đủ năng lực thấy Long thừa khí kết Huyệt, vượng Khí quán Huyệt, để cho hậu duệ con cháu của người được chôn táng được phát phú phát quý – đó mới là tiêu chuẩn. Biết phân biệt và học hỏi như vậy thì mới có thể nghiên cứu Phong thủy, không phải bất cứ điều gì cổ nhân nói cũng đều là con đường đúng duy nhất.

  1. Một là Táng Hình

Táng Hình là dựa vào Hình và Thế núi mà lựa chọn Táng Pháp. Trong Thập Nhị Đảo Trượng Pháp điều này được nói rất rõ, như: hồi Long cố Tổ, Thủy triền Huyền Vũ, Kỳ Long Táng Pháp, Hát hình điểm Huyệt Pháp đều lấy phép Táng Hình; Nhưng Huyệt Hình không tách rời Tứ Tượng “Oa- Kiềm – Nhũ – Đột”; đồng thời còn phải xem xét Huyệt Trường phía sau Huyền Vũ như là “Cầu – Quỷ – Lạc”; hai bên Thanh Long – Bạch Hổ có Thiền Dực Sa, Hà Tu, Giải Nhãn Thủy; Chu Tước phương có Thần, Chiên, Kim Ngư Thủy hoặc Chân ứng Thủy và Nội Án. Chân Long chân Huyệt đều có Hình tượng để quan sát, chứ không phải những cách nói huyền hoặc kiểu “Hổ táng Vương tử” , “Xà táng bảy tấc”. Quan trọng nhất là phải nhận ra đặc trưng kết Huyệt biện luận đực cái – âm dương, rồi thuận theo Thế và Hình mà táng, ví dụ: Hoành Long kết Huyệt không có Quỷ sơn, Lạc sơn hoặc Huyệt Tinh tròn như Bánh Bao thì đều không thể dùng.

  1. Hai là Táng Mạch

Táng Mạch là dựa theo Mạch Long từng bước nhập Huyệt, tiếp đúng Mạch mà an táng. Điểm khó của Phong Thủy nằm ở việc điểm Huyệt, mà cái khó của việc điểm Huyệt lại ở việc xét rõ những đặc trưng về khí trên  Long Mạch. Người xưa nói: “Tầm Long bắt Mạch để cầu Huyệt”, đủ để thấy Khí của Mạch biến hóa không đồng nhất, khi thì yếu nhẹ hoặc khi thì bay thoáng qua, lúc lại lặn ẩn như muốn trốn chạy. Làm sao để tìm bắt được Mạch, đó là công phu của việc biện chứng Âm – Dương, có năng lực quan sát tổng thể và thấu suốt toàn cục diện là quan trọng nhất. Phàm là Mạch nhập Huyệt, có thể thấy rõ ràng rực rỡ, như sợi chỉ, như đường Tơ, có đầu mặt nhô lên, giao nhau sắc nét, Hình Huyệt ngay ngắn, Mạch khí hòa hợp – đó chính là Huyệt. Đây là công phu căn bản nhất của việc Điểm Huyệt, gọi là Táng Mạch. Cái gọi là “Cao không chọi với Mạch, thấp không phạm lạnh lẽo, xê dịch mà không được lìa xa Mạch” là những yêu cầu cơ bản trong Táng Pháp. Ngoài ra, Mạch còn có các trạng thái như: Mạch cấp, Mạch hoãn, Mạch hiện, Mạch ẩn, Mạch trầm, Mạch hoành, Mạch nghiêng..thì Táng Pháp cũng yêu cầu có cách xử lý tương ứng. Người học Phong Thủy Âm Trạch nếu nhãn quan chưa đủ tinh tế, ngay cả Mạch cũng chưa phân biệt rõ, lại không biết dựa vào Mạch Khí để chọn các cách Táng như Chính thụ, Trắc ỷ, Thâm táng, Trung táng, Thiển táng, thì vẫn chưa thể xem là đã Nhập Môn.

  1. Ba là Táng Khí

Tìm đúng Khí Nhãn (vị trí tụ khí) để hạ Táng là việc vô cùng khó, độ khó cực cao, như Cuộc đất Tim Gà, Bong Bóng Cá, …cần vận dụng sự tưởng tượng và liên hệ mô phỏng để quan sát nơi sinh khí vận động phân bố, xét sự vận động và hợp thành của Khí. Người có chút kinh nghiệm trước hết cần nhận biết Mạch, sau đó phân biện Huyệt Tinh.

Ví dụ:

  • Khí sinh của Kim tụ ở chỗ Oa bào (chỗ rộp).
  • Khí sinh của Mộc tụ ở chỗ Nha Tiết (chỗ mầm).
  • Khí sinh của Thủy tụ ở chỗ Dũng Miêu (Nhành non)
  • Khí sinh của Thổ tụ ở chỗ Khẩu giác (khóe miệng).
  • Khí sinh của Hỏa tụ ở chỗ Thủy Quật (Hang nước), gọi là thế Thủy Hỏa Ký Tế.

Tiếp theo còn phải xét tướng Huyệt HÌnh để xác định Khí động. Ví dụ, như Tướng Đầu trẻ nhỏ thì khí động ở Thóp đầu, Tướng Bàn tay nghiêng thì Khí động ở Huyệt Hợp cốc, tướng Bàn tay ngửa thì Khí động ở chỗ Chuyển Da, Cổ tay Cánh tay thì khí động ở nơi Bắp chuột. Động chính là cơ chế của Sinh khí, vì vậy lấy Động làm dấu hiệu của sự sống. Ngoài ra còn cần quan sát Quầng sáng của Huyệt. Như, trên nhọn dưới tròn thì sinh khí nằm phía dưới, ngược lại, trên tròn dưới nhọn thì sinh khí nằm phía trên. Hình tròn là biểu hiện của Sinh khí, cho nên lấy tròn làm dấu hiệu của sinh khí.

Còn cần xem Nội Cục Tứ Ứng. Nội Cục Tứ Ứng chính là bằng chứng của Sinh khí. Phía trên hơi nhô thành khối cầu tròn là Hậu Ứng; Phía Dưới hợp Thủy, viền nhọn như mái hiên là Tiền Ứng; Hai bên có Hà Tu, Giải Nhãn Thủy, Thiền Dực, Ngư giác Sa là Tả Hữu Ứng. Ngoại Tứ Ứng là trợ lực của Sinh khí. Phía sau được Lạc Sơn che chẵn là Hậu ứng, phía trước Triều Án Sơn làm Tiền ứng. Hai bên kẹp Nhĩ Sơn làm Tả Hữu Ứng. Nếu Tiền ứng hữu tình, thì Khí tại Tiền (trước), nếu Hậu ứng hữu tình thì khí tại Hậu (sau), Tả Ứng hữu tình thì Khí tại Tả (trái), Hữu ứng hữu tình thì khí tại Hữu (phải). Tứ ứng đều hữu tình thì khí ở trung tâm. Đó là Phương Pháp dùng Tứ Ứng để ứng nghiệm Sinh khí.

Còn cần xét Thanh Long – Bạch Hổ. Long Hổ làm dụng thần cho Sinh khí. Tả hữu Sa cao, tức Sa hai bên cao thì Khí ở chỗ cao. Tả hữu Sa thấp. Tức khí ở chỗ thấp. Trái thẳng, phải ôm bào thì Khí lệch về phía phải. Phải thẳng trái cong thì khí lệch về phía trái. Đây là Phép dùng Long Hổ để xét Sinh Khí.

Còn cần xem xét Án Sơn – Triều Sơn. Án – Triều Sơn là sự phối hợp của sinh khí. Nếu Triều Sơn cao thì Khí ở vị trí cao, nếu Án Sơn thấp thì Sinh khí ở vị trí thấp. Án Sơn có mặt hướng về phía Huyệt, chầu bái hữu tình với Huyệt, thì lấy Án Triều Sơn để nghiệm ứng Sinh khí.

Còn phải Xét thẩm Minh Đường. Thủy trong mình đường chính là triệu chứng về sinh khí hội tụ. Thủy tụ ở giữa minh đường, tức khí ở giữa Minh Đường; Thủy tụ phía trái, tức Khí tại phía trái Minh Đường; Thủy tụ phía phải, tức Khí tại phía phải Minh Đường; Thủy lai cần Thiên Môn rộng mở, đường thủy dài và xa; Thủy khứ dòng chảy nên ngắn nhỏ, ẩn tàng, có đóng giữ quan tỏa. Đó là Phép dùng Minh Đường để nghiệm ứng Sinh khí.

Vì vậy, Phép Táng thừa sinh khí, trước hết cần theo Long Mạch nhận biết Mạch, từ Mạch quan sát Khí. Tiếp đến dùng các phương pháp trên để khảo sát tỉ mỉ, mới không làm sai lạc vị trí Sinh khí, có thể tiếp nhận được Khí mà không sai lệch. Như vậy mới tìm được Chính Huyệt, và đó cũng là Môn Đạo Pháp Thuật mà thầy Phong Thủy buộc phải nắm vững.

  1. Bốn là Táng Ảnh

Đây là Pháp Táng cực kỳ cao siêu, đa phần là Quái Huyệt (Huyệt kỳ dị), nếu không phải bậc Đại sư Phong thủy đạt đến cảnh giới cao nhất thì không thể thực hiện. Điểm then chốt của Táng Ảnh là dấu hiệu đặc trưng của Kết Huyệt không rõ ràng, nhưng Hình thế của cuộc đất lại rất tốt, tâm Huyệt nhìn không thấy đặc trưng của Khí Mạch song nếu quan sát kỹ lưỡng hoặc công lực thâm hậu thì chỉ cần liếc mắt đã nhận ra Vầng Thái cực tròn, Huyệt quý vô cùng.

Không Thạch Trường Giả viết trong“Ngũ Tinh tróc Mạch chính biến Minh Đồ” : “Khi Huyệt trường đã định, trước tiên cần phân biện được Vầng Thái Cực tròn. Nếu trong chỗ ẩn tàng tinh vi, vầng thái cực rõ nét, tức là Khí tụ bên trong, đó là Chân Huyệt, còn nếu không có thì không phải Chân Huyệt. Nếu đất khai khẩn, người gặp được Cuộc đất này cần dùng nhãn quan tinh tường suy xét, nếu thấy hai ba nửa vòng tròn như trăng non mới mọc thì gọi Thiên Luân, lại càng hiếm có.

Liêu Vũ trong “Tứ Tượng Táng Pháp” viết: “ Vầng Thái Cực tròn bên trong Huyệt chính là nơi Sinh khí ngưng tụ, vầng sáng kỳ diệu của linh khí hiển lộ. Khi lập Huyệt nên lấy trong phạm vị vầng Thái Cực này, không được phá vỡ. Vì rằng, làm vỡ thì sinh khí sẽ thoát, linh khí tiêu tán, sâu kiến xâm nhập, nước thấm Quan Tài, con cháu nghèo khó bần hàn”. Có nơi đại địa, không những Huyệt Sơn khí thế rộng lớn, ý vận bay bổng, mà các Sa sơn hai bên, tiền Án, hậu đỡ đều có ý hướng quy tụ, toàn bộ phía trong Minh Đường giống như báu vật được tám phương bảo hộ, nơi trung tâm ấy chính là Huyệt. Ngay cả đất nhỏ bé cũng có Pháp Táng Ảnh, bởi Huyệt sơn tuy mở nhưng thần khí không tập trung ở thân sườn núi mà lại có một mắt thần khác như dòng điện linh quang rọi xuống nơi khác. Nơi ấy tựa như đỉnh Phong loan đổ bóng, hình dạng như phôi thai, như ngọc trai huyền huyền ảo ảo, mơ hồ thấp thoáng, dường như có khí dày đặc tụ lại, âm dương sum hòa, giao thoa lẫn nhau.

 

Sự khác nhau giữa Táng Hình – Táng Mạch – Táng Khí -Táng Ảnh chỉ là mức độ hiển lộ hay ẩn tàng tinh vi của Khí Mạch mà thôi, thực chất đều là biện chứng các trạng thái khác nhau của Mạch Tượng cụ thể. Táng Mạch thì thuận Hình mà đi, Sơn Thủy sông nước rõ ràng, quy củ minh bạch. Táng Khí và Táng Ảnh là cảnh giới của “Ý họa Long thần”, sơn thủy mang tình ý sâu kín, không câu nệ tiểu tiết mà tự thành đại khí. Phép Điểm Huyệt cốt ở chữ “TÂM”, phải hòa mình vào tình ý sông núi, đạt đến trạng thái thâm nhập đắm say mới được.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *